1: Khái niệm
Như đã trình bày trong chương 1: theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, người lao động thế kỷ 21 tại Hoa Kỳ cần có 13 kỹ năng thiết yếu, trong đó kỹ năng tư duy sáng tạo được xếp hàng đầu. Trong cuộc sống nói chung và trong công việc nói riêng, nếu thiếu tư duy sáng tạo thì con người có thể sẽ gặp khó khăn khi giải quyết những vấn đề nan giải, đòi hỏi phải có những giải pháp mang tính đột phá và hoàn toàn mới lạ.
Tư duy sáng tạo là sự khác biệt, ưu thế tuyệt đối của loài người so với các sinh vật khác. Tư duy sáng tạo đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu như không nói là quyết định đối với quá trình tiến hóa và phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là trong thế kỷ 21 này- khi mà nền kinh tế tri thức (với hàm lượng sáng tạo chiếm ưu thế tuyệt đối) lên ngôi. Chính nhờ có sáng tạo mà qua từng thời đại, con người chế tạo ra vô số thiết bị để “tăng tiến” khả năng của con người. Như máy bay là sự tăng tiến khả năng tiếp cận không trung, điện thoại là sự tăng tiến cho khả năng nói và nghe.
Nhưng “Tư duy sáng tạo” là gì? Theo các nhà tâm lý học thì tư duy sáng tạo được xem là dạng hoạt động trí não cao nhất của con người. Năng lực sáng tạo là cốt lõi của tư duy sáng tạo, làm tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo, nó được xác định từ chất lượng đặc biệt của các quá trình tâm lý bao gồm nhiều quá trình gắn kết như: quá trình trí nhớ, tư duy, xúc cảm. Tư duy sáng tạo là kiểu giải quyết vấn đề dựa trên quá trình động não để tìm ra những phương án khả thi, rồi rút ra được phương án tối ưu dựa trên các phương án đã nêu ra. Điều này thoạt đầu nghe có vẻ đơn giản nhưng thực ra là cả một quá trình rất phức tạp đòi hỏi sự nỗ lực cao độ của hoạt động trí óc.
Hình 1.1 : Tư duy sáng tạo- dạng hoạt động trí não cao nhất
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về tư duy sáng tạo. Có thể tham khảo của Torrance (1962): định nghĩa “Tư duy sáng tạo là một quá trình tạo ra ý tưởng hoặc giả thuyết, thử nghiệm ý tưởng này đi đến kết quả … Kết quả này có ít nhiều mới mẻ, có chút ít gì đó trước đây con người chưa bao giờ nhìn thấy, chưa có ý thức về nó”. Nói ngắn gọn thì bản chất sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất.
Như vậy tiêu chí sáng tạo ở đây là “tính mới lạ” và “tính có giá trị” (có ích lợi hơn, tiến bộ hơn so với cái cũ).
1.2. Tầm quan trọng của kỹ năng tư duy sáng tạo
“Sáng tạo là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công”.
Những thay đổi nhanh chóng của thời đại ngày nay đặt chúng ta trước yêu cầu rằng các vấn đề phải được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả. Và sáng tạo chính là con đường ngắn nhất dẫn đến thành công. Thật khó để nói rằng những kiến thức chúng ta có sẽ giải quyết các vấn đề một cách sáng tạo trong tương lai. Tất cả chúng ta phải tiếp tục học trong suốt cuộc đời, nhưng những kiến thức chúng ta thu nhận được cũng không đảm bảo rằng sẽ giải quyết tốt những vấn đề gặp trong tương lai. Chỉ có khả năng tư duy sáng tạo mạnh mẽ mới cung cấp những giải pháp đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại vài tương lai.
Tư duy sáng tạo không chỉ chỉ cần thiết với những người đang làm việc trong lĩnh vực quảng cáo, marketing hay nghệ thuật, mà khả năng tư duy sáng tạo còn cần thiết cho việc phát triển công việc và thành công dù bạn làm việc trong bất kỳ ngành nghề nào. Chẳng hạn như, với một nhà hóa học nếu có khả năng sáng tạo, anh ta có thể phát minh ra những phương pháp ứng dụng các thiết bị như lò vi sóng vào lĩnh vực tổng hợp hợp chất hữu cơ, hay chiết suất tinh dầu từ thực vật. Một giảng viên sáng tạo sẽ không bao giờ thiếu những phương pháp hay để truyền đạt kiến thức cho sinh viên một cách hiệu quả nhất: như lớp học đảo ngược (flipped classroom), thảo luận nhóm, video clips. Một người bán hàng sáng tạo sẽ luôn tràn ngập ý tưởng để tiếp cận khách hàng: họ có thể biến một khách hàng chỉ có ý định mua chiếc cần câu thành khách hàng mua chiếc cano để đi câu.
Tính sáng tạo và lối suy nghĩ thông minh được đánh giá cao ở bất cứ công việc nào. Thậm chí công việc mang tính kỹ thuật nhất cũng đòi hỏi khả năng suy nghĩ thoát ra khỏi khuôn khổ. Vì vậy đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của việc giải quyết vấn đề theo cách sáng tạo. Bạn có thể đang phải làm một công việc chán ngắt, buồn tẻ, hãy cố gắng khắc phục nó theo cách hiệu quả hơn. Khi một vấn đề khiến người ta phải miễn cưỡng bắt tay vào làm, hãy nghĩ ra một giải pháp sáng tạo hơn. Nếu không được, ít ra bạn đã từng thử nó. Ở tầm vĩ mô, theocác nghiên cứu về sự phát triển kinh tế trong giai đoạn trước thế kỷ 21thì: các cá nhân, công ty hoặc quốc gia đã trở nên giàu thường có một hoặc một số trong bốn nguyên nhân sau:
1. Có tài nguyên thiên nhiên nhiều hơn;
1. Sinh ra đã giàu (như do thừa kế tài sản), có nguồn vốn tính theo đầu người cao;
2. Có công nghệ tiên tiến hơn các đối tượng khác xung quanh;
3. Có nguồn nhân lực tốt hơn những đối tượng xung quanh.
Khi bước vào thế kỷ 21, một câu hỏi đặt ra là: nguyên nhân nào làm cho một cá nhân, công ty hoặc quốc gia thành công về kinh tế? Câu trả lời cho vấn đề này là: ba nguyên nhân đầu càng ngày càng giảm bớt vai trò của chúng, mà nguồn nhân lực (mà cốt lõi là nguồn nhân lực có tính sáng tạo cao) sẽ là động lực dẫn dắt. Sáng tạo thật sự là nguyên nhân chính cho sự thành công nếu không nói là duy nhất ở thế kỷ 21.
Có thể thấy rõ hơn điều này khi nhìn vào sự phát triển một số quốc gia như: cuối thế kỷ 19, Argentina là một trong những nước giàu nhất thế giới (đến thập niên 1920’s, họ vẫn còn giàu ngang với nước giàu có ở châu Âu). Ngày nay, Argentina chỉ được xếp vào danh sách các nước đang phát triển, thậm chí suýt bị vỡ nợ. New Zealand đã có lúc đứng thứ ba thế giới về thu nhập tính theo đầu người. Hiện nay, New Zealand được xếp vào cuối danh sách của các nước thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Với Việt Nam, dù tài nguyên khá phong phú nhưng vẫn ở top dưới thế giới. Ở thế kỷ 21, lực lượng lao động tốt hơn những người xung quanh được hiểu cao hơn: ngoài việc được đào tạo bài bản để có các kỹ năng nghề nghiệp tiên tiến, lực lượng lao động còn phải có thêm các kỹ năng mới, đặc biệt trong đó là các kỹ năng sáng tạo và đổi mới.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy một số nguyên nhân dẫn đến việc “Thế kỷ 21 là thời đại của tư duy sáng tạo (tương ứng với nền kinh tế tri thức)”, chúng bao gồm:
1. Thế kỷ 21 là thời đại cạnh tranh tri thức. Trong các lĩnh vực cần tri thức, chính sáng tạo làm tăng giá trị thặng dư của tri thức, làm cho tri thức đem lại nhiều ích lợi hơn.
2. Các quốc gia, tổ chức, công ty càng ngày càng thấy sự cần thiết phải nhanh chóng tái tạo, tái sáng chế, đổi mới chính mình để phát triển. Sự cạnh tranh toàn cầu đòi hỏi mỗi công ty,tổ chức, quốc gia phải huy động các ý tưởng, tài năng và các tổ chức sáng tạo. Công ty, tổ chức, quốc gia nào không coi trọng đúng mức điều này sẽ mất đi lợi thế về chiến lược
3. Lĩnh vực dịch vụ, sản xuất sản phẩm hàm lượng chất xám cao phát triển, đòi hỏi nhiều người làm việc công việc ngày càng sáng tạo và những người tài thường thay đổi/có cơ hội thay đổi chỗ làm việc hơn bao giờ hết.
4. Có sự thay đổì quan hệ trên thị trường: khách hàng bây giờ có nhu cầu, yêu cầu cao hơn; so sánh, đối chiếu nhiều sản phẩm có tính năng tương tự, chứ không còn là khách hàng trung thành như trước đây. Chỉ có sáng tạo mới tạo ra được sự khác biệt.
5. Vì quản lý đang thay đổi vai trò từ kiểm soát sang giải phóng sức sáng tạo. Đây chính là tư duy quản lý mới. Tư duy sáng tạo sẽ mở rộng quá trình sáng tạo, đề xuất nhiều phương án độc đáo, sáng tạo, và triển khai các hệ thống cần thiết cho việc thực hiện giải pháp. Tư duy sáng tạo sẽ giúp cho mọi người có suy nghĩ thông minh hơn; giúp cho mọi người làm việc hiệu quả hơn: đạt kết quả cao nhất trong thời gian ngắn nhất.
Còn phần tiếp theo mong các bạn độc giả ủng hộ .
Xin chân thành cảm ơn .
